NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI KÝ KẾT HỢP ĐỒNG ĐỂ KHÔNG VI PHẠM QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Thứ tư - 23/12/2020 10:33
Các giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự trong nhiều trường hợp sẽ bị tòa án tuyên là vô hiệu, mặc dù các bên vẫn thống nhất và muốn duy trì sự giao kết, hợp đồng đó với nhau.
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI KÝ KẾT HỢP ĐỒNG ĐỂ KHÔNG VI PHẠM QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Vậy những trường hợp nào các giao dịch/hợp đồng vô hiệu:

* Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu:

Theo quy định tại điều 122 BLDS 2015 thì: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”.

Và tại điều 117 BLDS 2015 quy định:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

Tùy vào từng loại giao dịch, hợp đồng cụ thể mà pháp luật yêu cầu các bên phải đáp ứng điều kiện về hình thức, ví dụ như: có những giao dịch, hợp đồng hợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệng cũng đã có hiệu lực, tuy nhiên đối với một số giao dịch, hợp đồng khác lại phải lập thành văn bản, hoặc một số khác lại phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Như vậy, nếu một giao dịch dân sự bất kỳ nào đó mà thiếu đi một trong các điều kiện nói trên khi có yêu cầu của một bên hoặc bên thứ 3 nào đó thì sẽ là vô hiệu.

Cụ thể:

 – Giao dịch đó vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội: Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:

+ Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

+ Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện: Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn: Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép: Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình: Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu…

Vậy, khi giao dịch vô hiệu thì hậu quả pháp lý sẽ như thế nào?

– “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

– Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

– Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

– Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

– Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định” (điều 131 BLDS 2015).

* Các trường hợp hợp đồng vô hiệu:

“1. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

2. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính” (điều 407 BLDS 2015).

Tức là các trường hơp như hợp đồng như hợp đồng  vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; hợp đồng giả tạo; hợp đồng bị nhẫm lẫn; hợp đồng do bị lừa dối, đe dạo, cưỡng ép… sẽ vô hiệu.

Ngoài ra hợp đồng còn vô hiệu do trường hợp có đối tượng không thể thực hiện được.

Hậu quả của hợp đồng vô hệu cũng sẽ là: không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường; Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do BLDS, luật khác có liên quan quy định.

Chính vì vậy, các bên khi muốn thỏa thuận, ký kết giao dịch / hợp đồng thì cần hết sức lưu ý và tránh các trường hợp dẫn đến giao dịch/hợp đồng bị vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Chúng tôi, với đội ngũ luật sư có nhiều kinh nghiệm về đàm phán ký, kết hợp đồng luôn sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân đang gặp vướng mắc. Nếu có cần được tư vấn, hỗ trợ hãy liên hệ với Chúng tôi.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Đăng kí tư vấn


Kiến thức pháp luật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây